|
Bạn có biết bộ não của chúng ta có khả năng rất cao về nhận diện không? Khi gặp người quen, trong tích tắc nó đã nhận ra người đó là ai và những quan hệ về người đó. Bên cạnh thị giác, chúng ta có những giác quan khác giúp chúng ta nhận ra những gì ta thấy và nghe, và đối với người thân, khả năng nhận thức của ta càng nhạy bén hơn.
Bốn Phúc Âm nhắc đến việc Chúa Giêsu hiện ra với các môn đệ sau khi sống lại và trước khi về trời tất cả hơn mười lần. Trong những lần Chúa Giêsu hiện ra, có lúc họ nhận ra Chúa Giêsu và cũng có những lúc họ không nhận ra mà còn lại tưởng Ngài là ma. Lại có lúc khi Ngài đến với họ, một người nhận ra và người bên cạnh lại không nhận ra Ngài, chẳng hạn như Phêrô và Gioan bên biển hồ Tibêria. Nếu con người chúng ta có khả năng nhận định nhạy bén, vậy thì cái gì đã cản trở các môn đệ nhận ra Chúa Giêsu khi Ngài hiện ra với các ông?
Sau khi Chúa Giêsu sống lại, Ngài tỏ mình ra bằng nhiều hình hài khác nhau, Phúc Âm Máccô có nói đến điều này, “Người tỏ mình ra dưới một hình dạng khác” (Mc 16:12). Phúc Âm có nhắc đến một vài hình dạng hiện ra của Chúa Giêsu và có lẽ đó là lý do mà các ông không nhận ra Ngài. Với Maria Mácđala Chúa Giêsu hiện ra như người làm vườn (Ga 20:11-18). Với hai môn đệ đi Em-mau, Ngài hiện ra như người đi cùng đường với các ông (Lc 24:13-35). Với bảy môn đệ đang đánh cá bên biển hồ Tibêria, Ngài hiện ra như người chài lưới rành nghề (Ga 21:1-23). Với mười một môn đệ khi các ông đang đóng kín cửa phòng, Chúa Giêsu hiện ra với các ông với những thương tích của Ngài (Ga 20:26-28). Nếu chúng ta nhìn kỹ những hình ảnh khác nhau của Chúa Giêsu khi Ngài đến với các môn đệ, chúng ta sẽ nhận ra sức mạnh và quyền năng của Chúa Giêsu Phục Sinh và sứ mạng của Ngôi Lời Nhập Thể. Ngôi Hai Thiên Chúa đón nhận cuộc sống làm người khi Ngài được thụ thai trong lòng Mẹ Maria, và sứ mạng làm người của Ngài bắt đầu từ đó. Sứ mạng của Ngài không chấm dứt bằng cuộc tử nạn, nhưng nó được phong phú hơn qua cái chết và sự sống lại của Ngài. Chúa Giêsu Phục Sinh là Chúa Giêsu biến hình. Ngài biến hình dạng để được làm nên một với chúng ta.
Một điều chúng ta thấy rằng các môn đệ tuy không nhận diện Ngài trong các câu chuyện Phục sinh, nhưng họ vẫn ở với Ngài để rồi Ngài dạy họ biết nhận ra Ngài. Khi cô Maria Mácđala đang còn quanh quẩn bên ngôi mộ tìm xác Thầy Giêsu, thì Ngài đã đến như một người làm vườn để đến với cô. Cô đã đi tìm Chúa và Chúa cũng đi tìm cô, nhưng khi gặp Ngài cô không nhận ra Ngài mà tưởng là người làm vườn. Cô Maria Mácđala mặc dầu buồn sầu nhưng vẫn ở bên cạnh mộ Chúa Giêsu mong mỏi được gặp Ngài, và hỏi thăm để tìm được xác Thầy Giêsu. Lúc đó Ngài gọi tên cô và cô đã nhận ra Ngài. Cũng thế, hai môn đệ trên đường Em-mau không nhận ra Chúa vì họ mải mê chìm đắm trong sự sầu khổ riêng tư. Khi Chúa đến bên cùng đồng hành và giảng dạy mà họ cũng không nhận ra Ngài. Đến khi Ngài cùng họ bẻ bánh thì mắt họ mới mở ra và con tim mới nhận ra những biến chuyển của tâm hồn. Câu chuyện của các môn đệ bên bờ hồ Tibêria cũng vậy, họ không nhận ra Ngài khi Ngài đến và nói các ông bỏ lưới bên phải thuyền. Lúc đó mặc dầu họ mệt mỏi nhưng vẫn vâng lời thả lưới, qua sự vâng lời họ được một mẻ cá lạ lùng và Gioan người môn đệ Chúa thương mến nhận ra Ngài và nói với ông Phêrô “Chúa đó.”
Chúng ta cũng vậy, lắm lúc chúng ta đi tìm Ngài nhưng không nhận ra Ngài trong cuộc sống, và rồi chúng ta lại cứ tiếp tục đi tìm. Có lúc chúng ta còn trách Chúa sao không hiện diện, mà còn xa cách và bỏ rơi ta. Lắm lúc chúng ta quên rằng Chúa Giêsu Phục Sinh là một Thiên Chúa biến hình và Ngài đến với ta qua nhiều hình dạng khác nhau. Khi chúng ta đau buồn hay sợ hãi, Ngài đến chia sẻ những vết thương của Ngài để mong được làm một với ta như Ngài đã đến với các môn đệ. Khi chúng ta buồn phiền thất vọng, Ngài cũng sẽ đến bên và gọi tên ta như Ngài đã gọi tên cô Maria Mácđala. Khi chúng ta để những chuyện đời làm chúng ta lạc hướng, Ngài cũng sẽ đến đồng hành và dạy cho ta biết về đường lối của Ngài. Chúng ta hãy xin ơn để bắt chước các môn đệ để biết luôn ở với Ngài ngay cả khi ta chưa nhận ra Ngài, khi con mắt của chúng ta còn chưa mở và tâm hồn chúng ta còn nặng nề và chìm đắm trong vòng luẩn quẩn của riêng tư. Khi chúng ta còn quằn quại trong đau thương thì chúng ta sẽ không thấy Ngài và chỉ quay quanh vũ trụ nhỏ bé của mình. Chỉ khi nào chúng ta biết dâng lên những khổ đau đó, biết nhìn qua chúng, và xin ơn để nhìn qua con tim yêu thương của mình, chúng ta mới nhận ra Ngài, nhận ra con tim của ta vẫn bừng cháy lên vì Chúa đang yên ủi và nâng đỡ ta, và chúng ta nhận thức được những chuyển động trong nội tâm ta.
Có lẽ trước khi đi vào cuộc tử nạn, Chúa Giêsu đã hiểu sứ mạng vinh quang của Ngài và Ngài sẽ là một Thiên Chúa biến hình. Bởi thế lúc Chúa biến hình cho các môn đệ trên núi, Ngài đã tiên báo về sự Phục Sinh của Ngài và cho các ông thấy vinh quang của một Thiên Chúa sống lại từ cõi chết. Đó là biểu hiệu của sự biến đổi của Ngài. Tại bữa tiệc ly khi Ngài lập Bí Tích Thánh Thể, Ngài đã biến hình trong tấm bánh đơn sơ và một ly rượu tầm thường để đi vào từng tế bào của từng người chúng ta để rồi cả ta nữa cũng được biến hình biến dạng như Ngài. Ở đây, một lần nữa, Ngài muốn chia sẻ với các môn đệ sự biến dạng của sự Phục sinh đó. Ngài muốn chia sẻ với các ông sự sống và quyền năng Phục sinh của Ngài. Sau khi Chúa Giêsu sống lại Ngài tiếp tục sứ mạng biến hình và Ngài đã hiện ra cho các môn đệ duới nhiều hình thái khác nhau tùy theo hoàn cảnh và nhu cầu đức tin của từng người. Cũng vậy, Chúa Giêsu Phục sinh đến với mỗi chúng ta trong nhiều hình ảnh khác nhau theo sự cần thiết của từng người, và theo điều gì Ngài thấy tốt nhất cho từng người chúng ta. Vậy chúng ta hãy xin ơn Chúa để giúp ta luôn nhìn mọi sự với con mắt đức tin và tâm hồn, để rồi ta không bị che lấp bởi những chuyện đời riêng tư hay sợ hãi và nhận ra rằng Chúa Giêsu Phục Sinh luôn đồng hành với ta.
Củ Khoai, 4/2012
|